Kết quả quan trắc nước sông Thị Vải đợt IV- 2008:Nồng độ chất hữu cơ và chất dinh dưỡng giảm

Hàm lượng oxy hòa tan trong nước đã tăng trở lại.

Kết quả quan trắc nước sông Thị Vải  đợt thứ IV (18/12/2008) do Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thực hiện đã cho kết quả thật đáng phấn khởi: Nồng độ chất hữu cơ và chất dinh dưỡng đã giảm mạnh (xuống dưới 20mg/l đối với BOD50,52 mg/l đối với N-NH4+). Đối với chỉ tiêu dầu mỡ, ngoại trừ cảng dầu Phú Mỹ bị ô nhiễm dầu nhẹ, tất cả các vị trí quan trắc môi trường lại đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn Việt Nam 5942:1995 (LoạiB) được áp dụng để đánh giá. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước đã tăng trở lại đều đạt giá trị trên 3mg/l tại tất cả các vị trí quan trắc. Tuy nhiên hàm lượng N-NO2- trong nước sông Thị Vải vẫn chưa được cải thiện so với 3 đợt quan trắc trước, thậm chí có phần nặng hơn, đặc biệt là Khu vực gần điểm xả nước thải của công ty Vedan và Khu vực cách điểm xả nước thải của công ty Vedan 1km về phía hạ lưu. Điều đáng lưu ý là giá trị này cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm ngoái. Các chỉ tiêu gây ô nhiễm môi trường đã tiến hành giám sát còn lại còn chưa bị ô nhiễm.

Trước đó,  đến hết đợt quan trắc thứ  III vào ngày 5-8-2008, nước sông Thị Vải tại tất cả các điểm quan trắc vẫn  bị ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm chất dinh dưỡng (N-NH4+) và chất hữu cơ (BDO5). Nồng độ hai chất này luôn vượt xa giới hạn cho phép của tiêu chuẩn ở tất cả các vị trí tiến hành quan trắc. Cụ thể, tại Khu vực cách điểm xả nước thải của Công ty Vedan 1km về phía hạ lưu,  nồng độ BOD5  có giá trí lớn hơn 100 mg/l và N -NH 4+ lớn hơn 6 mg/l  ở cả 3 đợt quan trắc ( Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt chỉ cho phép với BOD5< 25 mg/l  và N-NH4+1 mg/l ). Tác nhân ô nhiễm nặng thứ hai  là dầu mỡ. Mức độ ô nhiễm dầu nặng nhất vào đợt quan trắc III khi kết quả cho thấy tất cả các vị trí tiến hành quan trắc đều bị ô nhiễm. Trong đợt quan trắc này, giá trị T-dầu đo được đạt đến  mức cao nhất trong năm là 1,8mg/l ( Khu vực cách điểm xả nước thải của Công ty Vedan 1km về phía hạ lưu). Tiếp đến  là lượng oxy hòa tan (DO), có nơi giá trị DO xuống tới  mức cực kỳ thấp 0,16 mg/l ( Khu vực gần điểm xả nước thải của Công ty Vedan) hay 0,12 mg/l (Khu vực cách điểm xả nước thải của Công ty Vedan 1km về phía hạ lưu). Cũng tại hai vị trí vừa nêu trên, nồng độ oxy hòa tan luôn  <1 mg/l trong cả 3 đợt quan trắc đầu trong năm (tiêu chuẩn qui định đối với DO là ≥2 mg/l).  Một tác nhân ô nhiễm môi trường còn lại như N-NO2-, chì, cardimim, vi sinh tuy chỉ diễn ra trên diện hẹp nhưng mức độ ô nhiễm cũng không phải là thấp.

Như vậy, từ sau khi cống xả nước thải ngầm của công ty Vedan bị phát hiện và ngăn chặn, chất lượng nước sông Thị Vải đã có sự cải thiện rất lớn, từ một dòng sông chết với giá trị DO có lúc xuống còn 0,12mg/l nay đã đạt trên 3mg/l. Đạt được kết quả này phải kể đến sự góp sức của các cơ quan chức năng trong việc phát hiện, xử lý đối với công ty Vedan và một số cơ sở sản xuất khác đã nhiều năm liền “lén lút” xả nước thải trái phép xuống dòng sông này. Tuy nhiên, để tiếp tục cải thiện môi trường nước và giữ vững kết quả lâu dài trên sông Thị Vải, chúng tôi thiết nghĩ  cần có sự quan tâm thường xuyên, đúng mức của các sơ, ban, ngành  và địa phương có liên quan.

Tác giả bài viết: Hạnh Dung