Quy hoạch không gian biển quốc gia và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ-|-Thông báo về việc hủy bỏ kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu: Lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất 221.841,1 m2 đất ( thuê đất trả tiền một lần) tại xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc.-|-Cần tập trung phát triển công nghiệp trong các lĩnh vực giàu tiềm năng, giải quyết nhiều việc làm gắn với bảo vệ môi trường-|-Thông báo về việc lựa chọn đấu giá tài sản-|-Tuổi trẻ Sở Tài nguyên và Môi trường tham gia tổ chức mô hình hưởng ứng phong trào "Tuổi trẻ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chung tay xây dựng nông thôn mới 2018"-|-Thông báo về việc lựa chọn đấu giá tài sản-|-Thông báo về việc lựa chọn đấu giá tài sản-|-Thực hiện quan trắc hiện trạng môi trường tuần 02 tháng 12 năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng theo quyết định 2875/QĐ-UBND ngày 19/10/2016 của UNBD tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu-|-Ban hành Quy định mới về định mức kinh tế - kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5000-|-Hướng dẫn thực hiện việc hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất-|-

Tìm kiếm

Thăm dò ý kiến

Đánh giá của bạn về hệ thống Website Sở Tài nguyên và Môi trường

Tuyệt vời

Tốt

Trung bình

Không có gì để nói

Rất tồi

Văn bản thuộc lĩnh vực

Báo cáo

Biên bản

Chỉ thị

Công ước

Công văn

Hướng dẫn

Kế hoạch

Kết luận

Lệnh

Luật

Nghị quyết

Nghị quyết liên tịch

Nghị định

Pháp lệnh

Quy chế

Quy phạm

Quy định

Quy định tạm thời

Quyết định

Sắc lệnh

Thông báo

Thông tư

Thông tư liên bộ

Thông tư liên tịch

Tờ trình

Thành viên có mặt

áo sơ mi nữ Đang truy cập : 19

Máy chủ tìm kiếm : 9

Khách viếng thăm : 10


2 Hôm nay : 1549

thời trang eva Tháng hiện tại : 80700

thời trang công sở Tổng lượt truy cập : 9676869

Khảo sát mức đô hài lòng
Thủ tục hành chính
Chung tay cải cách hành chính
Đường dây nóng Sở Tài nguyên và Môi trường
Đường dây nóng lãnh đạo tỉnh
Thủ tục hành chính công trực tuyến
Bảng đơn giá Sở Tài nguyên và Môi trường
Quỹ bảo vệ Môi trường
mail Sở Tài nguyên và Môi trường
Hệ thống giao lưu trực tuyến

Trang nhất » Tin Tức » ĐẤT ĐAI

Vướng mắc trong việc áp dụng chính sách liên quan đến quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Thứ hai - 01/10/2018 13:21
Ngày 28 tháng 11 năm 2017, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có Báo cáo số 235/BC-UBND xin ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường liên quan vướng mắc trong việc áp dụng chính sách liên quan đến quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo đó, ngày 27 tháng 4 năm 2018 Bộ Tài nguyên và Môi trường có Văn bản số 2132/BTNMT-TCQLĐĐ hướng dẫn giải quyết các vướng mắc liên quan đến lĩnh vực đất đai theo Báo cáo số 235/BC-UBND của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sở Tài nguyên và Môi trường xin cung cấp cụ thể, chi tiết như sau
1. Thu hồi đất đối với trường hợp chấm dứt hot động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư:
Tại khoản 14 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ. Bổ sung Điều 15a như sau:
“Điều 15b. Thu hồi đất đối với trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư
Việc thu hồi đất đối với trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và khoản 1 Điều 65 của Luật đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
“1. Trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê thì xử lý thu hồi đất như sau:
a) Chủ đầu tư được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư;
b) Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Khi hết thời hạn 24 tháng được gia hạn tiến độ sử dụng đất mà chủ đầu tư không thực hiện được việc chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp của mình gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai.
2. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm thì xử lý thu hồi đất theo quy định sau đây:
a) Chủ đầu tư được tiếp tục sử dụng đất 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư;
b) Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Nhà nước thu hồi đất của người bán tài sản gắn liền với đất thuê để cho người mua tài sản thuê;
c) Khi hết thời hạn 24 tháng được gia hạn tiến độ sử dụng đất mà chủ đầu tư không thực hiện được việc bán tài sản hợp pháp của mình gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai.”
Vướng mắc cần xin ý kiến giải quyết:
1.1. Đối với trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tin một ln cho cả thời gian thuê:
- Theo quy định trên, trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác. Có trường hợp, từ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đến nay chủ đầu tư chưa nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính này chưa bị xử ký theo quy định nên không thể thu hồi đất theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013.
Nay, nhà đầu tư đề nghị được thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước và đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định trên.
a. Cách giải quyết của các tỉnh:
- Tỉnh Bình Thuận: Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND tỉnh cho Chủ đầu tư tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tài chính, cấp GCNQSDĐ và chuyển nhượng theo quy định tại Khoản 1 Điều 15b của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (Khoản 14 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP).
- Tỉnh Đồng Nai: Hiện chưa có trường hợp nào như thế này, tuy nhiên theo quan điểm của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai: việc Doanh nghiệp chậm hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính là vi phạm theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai, do đó sẽ thu hồi dự án theo quy định.
- Tỉnh Bình Dương: chưa phát sinh vướng mắc như tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
b. Ý kiến đề xuất giải quyết: Quan điểm xử lý của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, giống tỉnh Bình Thuận, cụ thể: Xét thấy, việc nhà đầu tư từ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng vẫn không thực hiện dự án, không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước là vi phạm quy định của pháp luật. Do đó, việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt hoạt động dự án đầu tư và thu hồi dự án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhà đầu tư cũng đã ứng kinh phí để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên phần diện tích đất này. Do đó, nhằm tạo điều kiện để nhà đầu tư được thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau khi dự án bị chấm dứt hoạt động đầu tư, nên xem xét, chấp thuận cho nhà đầu tư tiếp tục được thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó giải quyết cho chủ đầu tư được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật trong thời gian 24 tháng.
Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, hướng dẫn.
* Hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Việc giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho chủ đầu tư là nhằm triển khai dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Do dự án đã bị chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư nên không có căn cứ để tiếp tục tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất đã giao, cho thuê; theo đó cũng không có cơ sở để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Giấy chứng nhận). Đối với trường hợp này, đề nghị Quý Ủy ban căn cứ quy định tại Khoản 14 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ để thu hồi đất theo quy định sau khi hết thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động.
1.2. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm.
Theo quy định trên thì đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện bán tài sản hợp pháp gn lin với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Nhưng trong thực tế, kể từ khi được cho thuê đất đến khi bị chấm dứt hoạt động dự án, chủ đầu tư chỉ mới đầu tư một số hạng mục công trình như san lấp được mặt bằng, làm hàng rào trong khu vực dự án (tài sản này không được chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
a. Cách giải quyết của các tỉnh:
- Tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương: Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND tỉnh thu hồi dự án vì Dự án chưa có tài sản hợp pháp theo quy định.
b. Ý kiến đề xuất giải quyết:  Kính đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn xử lý như thế nào; nhà đầu tư có đủ điều kiện được chuyển nhượng các hạng mục đã đầu tư như đã nêu trên; nếu không được thì sau khi thu hồi đất tài sản này phải xử lý như thế nào? Và trình tự, thủ tục thu hồi đất đối với trường hợp này được thực hiện như thế nào.
* Hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 của Luật Đất đai năm 2013 thì “đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu.”
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 189 của Luật đất đai thì một trong các điều kiện để được bán tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm đó là “tài sản được tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp tài sản của chủ đầu tư đã tạo lập hợp pháp trên đất đã được Nhà nước cho thuê thì khi dự án bị chấm dứt hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư, chủ đầu tư được thực hiện việc xử lý các tài sản hợp pháp của mình trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại Khoản 14 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ.
2. Xác định trường hợp không đưa đất vào sử dụng.
Điều 64 Luật Đất đai 2013 quy định. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai
“1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.
2. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai”
Tại khoản 12 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ. Bổ sung các điểm c, d và đ vào khoản 2 Điều 15 như sau:
“c) Trường hợp đến thời điểm kiểm tra, thanh tra mới xác định hành vi không sử dụng đất đã quá 12 tháng liên tục hoặc đã chậm tiến độ sử dụng đất quá 24 tháng thì thời điểm để tính gia hạn sử dụng đất 24 tháng được tính từ ngày cơ quan có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất quyết định gia hạn. Quyết định gia hạn tiến độ sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền được ban hành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả kiểm tra hoặc kết luận thanh tra nếu người sử dụng đất có văn bản đề nghị;
d) Người sử dụng đất không sử dụng đất đã quá 12 tháng hoặc đã chậm tiến độ sử dụng đất quá 24 tháng có nhu cầu gia hạn tiến độ đưa đất vào sử dụng phải có văn bản đề nghị gửi Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất xem xét quyết, định gia hạn.
Trường hợp sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có văn bản xác định hành vi vi phạm mà người sử dụng đất không có văn bản đề nghị được gia hạn thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất quyết định thu hồi đất theo quy định;”
Tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ. Sửa đổi Khoản 8, bổ sung Khoản 9 và sửa Khoản 9 thành Khoản 10 Điều 12 như sau:
“8. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì người thuê đất phải nộp cho Nhà nước Khoản tiền tương ứng với mức tiền thuê đất phải nộp được xác định như sau:
a) Trường hợp được gia hạn thời gian sử dụng theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 Luật đất đai thì khoản tiền tương ứng với mức tiền thuê đất phải nộp cho thời gian chậm tiến độ được tính theo số tiền thuê đất phải nộp hàng năm”
Vướng mắc cần xin ý kiến giải quyết:
Theo quy định trên trường hợp đến thời điểm kiểm tra, thanh tra mới xác định hành vi không sử dụng đất đã quá 12 tháng liên tục hoặc đã chậm tiến độ sử dụng đất quá 24 tháng thì thời điểm để tính gia hạn sử dụng đất 24 tháng được tính từ ngày cơ quan có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất quyết định gia hạn và phải nộp cho nhà khoản tiền tương ứng với mức tiền thuê đất phải nộp cho thời gian chậm tiến độ được tính theo số tiền thuê đất phải nộp hàng năm.
Nhưng trong thực tế có những trường hợp sau cần xin ý kiến giải quyết:
a. Doanh nghiệp A được UBND Tỉnh giao đất (cho thuê đất) để thực hiện dự án vào thời điểm năm 2010 (doanh nghiệp đã nộp tiền sử dụng đất, thuê đất cho nhà nước và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận bàn giao đất thực địa cùng thời điểm năm 2010).
Nhưng tại vị trí thực hiện dự án, các hạ tầng kỹ thuật chưa được nhà nước đầu tư theo quy hoạch (như đường, điện, nước …), nên đến nay Doanh nghiệp chưa triển khai thực hiện được dự án (chưa đưa đất vào sử dụng theo kế hoạch được duyệt).
Nay, trong quá trình Thanh tra dự án, cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi không đưa đất vào sử dụng của doanh nghiệp là vi phạm điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai. Doanh nghiệp được gia hạn 24 tháng và phải nộp cho nhà nước khoản tiền tương ứng với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong khoản thời gian này.
a. Cách giải quyết của các tỉnh:
- Tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương: không có vướng mắc như tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
b. Ý kiến đề xuất: Việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước xác định hành vi vi phạm của doanh nghiệp là phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai. Nhưng xét thấy, việc doanh nghiệp không đưa đất vào sử dụng là do yếu tố khách quan (do nhà nước chưa đầu tư hạ tầng đường, điện, nước …, vào dự án), nên hành vi này cần được xem như trường hợp “bất khả kháng khác do Thủ tướng chính phủ quyết định” (theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 15 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ). Do đó, có thể xem hành vi chậm đưa đất vào sử dụng theo hướng “bất khả kháng”, và không xác định là vi phạm điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai; nên không thực hiện gia hạn 24 tháng để tiếp tục sử dụng đất mà thực hiện giãn tiến độ hoặc gia hạn tiến độ thực hiện dự án.
* Hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Bộ Tài nguyên và Môi trường thống nhất với đề xuất của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: việc thanh tra, kiểm tra xác định hành vi vi phạm không đưa đất vào sử dụng là phù hợp với quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai. Tuy nhiên, việc không đưa đất vào sử dụng như đã nêu trong Điểm 2 Mục I báo cáo 235/BC-UBND có nguyên nhân khách quan và do lỗi từ cơ quan nhà nước. Do đó, đối với trường hợp này, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định đây là trường hợp bất khả kháng theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ và Nhà nước không thu hồi đất theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai. Bên cạnh đó, để đảm bảo điều kiện cho chủ đầu tư triển khai dự án, đề nghị Ủy ban nhân dân Tỉnh chỉ đạo sớm có kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng tại khu vực dự án; đồng thời, xem xét điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư cho phù hợp. Đối với dự án này, nếu được điều chỉnh tiến độ đầu tư thì không thực hiện gia hạn sử dụng 24 tháng và yêu cầu nhà đầu tư nộp cho Nhà nước khoản tiền trong thời gian này theo quy định tại Điểm 1 khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai.
b. Doanh nghiệp A được UBND Tỉnh giao đất (cho thuê đất) và bàn giao đất tại thực địa từ thời điểm 2012.
Trong quá trình xác định giá đất để nộp tiền sử dụng đất, do có vướng mắc về việc xác định giá và kiến nghị của doanh nghiệp kiến nghị nhiều lần, nên đến nay các cơ quan tham mưu vẫn chưa trình UBND Tỉnh ban hành quyết định phê duyệt giá đất, dẫn đến doanh nghiệp chưa nộp tiền sử dụng đất và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó chưa được cấp phép xây dựng, các thủ tục triển khai thực hiện dự án theo tiến độ.
Nhưng nay, trong quá trình Thanh tra dự án, cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi không đưa đất vào sử dụng của doanh nghiệp là vi phạm điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai. Doanh nghiệp được gia hạn 24 tháng và phải nộp cho nhà nước khoản tiền tương ứng với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong khoản thời gian này.
a. Cách giải quyết của các tỉnh:
- Tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương: không có vướng mắc như tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
b. Ý kiến đề xuất: Xét thấy, kể từ khi doanh nghiệp được nhà nước giao đất, cho thuê đất đến nay doanh nghiệp vẫn chưa được thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa được cấp giấy phép xây dựng nên không thể triển khai dự án theo đúng tiến độ. Do đó, để đảm bảo giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế, có thể xem hành vi chậm đưa đất vào sử dụng theo hướng “bất khả kháng”; Do đó, có thể xem hành vi chậm đưa đất vào sử dụng theo hướng “bất khả kháng”, và không xác định là vi phạm điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai; nên không thực hiện gia hạn 24 tháng để tiếp tục sử dụng đất mà thực hiện giãn tiến độ hoặc gia hạn tiến độ thực hiện dự án.
* Hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Về vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: Trường hợp doanh nghiệp chưa đưa đất vào sử dụng nếu lỗi do cơ quan nhà nước chậm xử lý các vướng mắc và chậm xác định giá đất để làm cơ sở tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần xem xét, xử lý theo hướng điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án cho nhà đầu tư và sớm tổ chức xác định giá đất cụ thể theo thẩm quyền quy định để tính thu nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Tuy nhiên, trước khi xem xét quyết định, Ủy ban nhân dân Tỉnh cần chỉ đạo, kiểm tra lại Kết luận thanh tra theo thủ tục thanh tra lại theo quy định của Luật Thanh tra để đảm bảo việc xử lý đúng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, đề nghị Ủy ban nhân dân Tỉnh cần nghiêm túc chấn chỉnh và xem xét, xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc chậm ban hành quyết định giá đất theo quy định.
3. Việc thu hồi đất (quỹ đất quản lý quy định tại Điều 8 của Luật đất đai) và cho chủ đầu tư thuê đất để thực hiện dự án.
Tại điểm 6 khoản 15 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chỉnh phủ quy định bổ sung các khoản 5, 6, 7, 8 và 9 vào Điều 16 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thông qua hình thức mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:
“6. Trường hợp diện tích đất thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh có phần diện tích đất do Nhà nước giao đất để quản lý quy định tại Điều 8 của Luật đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất và cho chủ đầu tư thuê đất để thực hiện dự án”.
a. Cách giải quyết của các tỉnh:
- Tỉnh Bình Thuận: Tại thời điểm năm 2015, UBND tỉnh Bình Thuận ban hành Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; quy trình thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quy trình chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Tại Điều 70 có quy định Xử lý đối với trường hợp đất trong dự án đầu tư vừa có đất do Nhà nước quản lý, sử dụng vừa có đất do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.
Căn cứ bản đồ địa chính khu đất dự án do đơn vị đo đạc có tư cách pháp nhân lập đã được thẩm định. Trường hợp trong khu đất vừa có đất do Nhà nước quản lý không giải phóng mặt bằng vừa có diện tích đất của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng thì xử lý như sau:
“....
2. Dự án đầu tư có diện tích đất do Nhà nước quản lý không phải giải phóng mặt bằng chiếm dưới 50% tổng diện tích của dự án đầu tư thì thực hiện theo Khoản 1 Điều này.
3. Dự án đầu tư có diện tích đất do Nhà nước quản lý không phải giải phóng mặt bằng chiếm từ 50% tổng diện tích của dự án đầu tư trở lên thì xử lý như sau:
a) Diện tích đất do Nhà nước quản lý không phải giải phóng mặt bằng nhỏ hơn 0,5 (không phẩy năm) ha hoặc có từ 02 thửa đất trở lên nằm rải rác, không liền vùng, diện tích mỗi thửa nhỏ hơn 0,5 (không phẩy năm) ha thì thực hiện theo Khoản 1 Điều này.
b) Diện tích đất do Nhà nước quản lý không phải giải phóng mặt bằng nằm liền vùng thành một khu vực, không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì lập hồ sơ tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất đối với diện tích đất do Nhà nước quản lý không phải giải phóng mặt bằng. .....”.
- Tỉnh Đồng Nai và Bình Dương: cho rằng quy định không định lượng, nên cứ thực hiện theo quy định tại điểm 6 khoản 15 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP.
c. Ý kiến đề xuất: Theo quy định trên thì dự án sản xuất, kinh doanh có phần diện tích đất do Nhà nước giao đất để quản lý quy định tại Điều 8 của Luật đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất và cho chủ đầu tư thuê đất để thực hiện dự án. Nhưng quy định không xác định rõ trong dự án đầu tư có bao nhiêu phần trăm diện tích đất quy định tại Điều 8 thì được thu hồi, cho nhà đầu tư thuê.
          UBND Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có cần thiết xây dựng quy định như UBND tỉnh Bình Thuận? Hoặc thực hiện theo quy định tại điểm 6 khoản 15 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP mà không cần xác định bao nhiêu phần trăm diện tích đất quy định tại Điều 8 thì được thu hồi, cho nhà đầu tư thuê.
          * Hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Theo quy định tại Điều 52 của Luật đất đai thì việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất cấp huyện đã được phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư.
Theo quy định tại Điều 193 của Luật đất đai, Điều 16 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ thì điều kiện để sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh đó là phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Pháp luật về đất đai hiện hành không quy định về tỷ lệ phần trăm thu hồi đất đối với việc phần diện tích đất do Nhà nước giao đất để quản lý quy định tại Điều 8 của Luật đất đai để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, căn cứ quy định tại Điều 52 và Điều 193 của Luật đất đai nêu trên, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu căn cứ vào hiện trạng đất đai và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương để chỉ đạo việc tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xác định cụ thể quy mô, địa điểm dự án đầu tư thực hiện theo phương thức thỏa thuận ngay trong quá trình lập dự án đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, tránh tình trạng chấp thuận cho các dự án đầu tư thực hiện theo phương thức thỏa thuận trên khu vực đất hiện do Nhà nước đang quản lý.
Theo quy định của Luật đất đai thì các thẩm quyền liên quan đến việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định giá đất đều giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện thực hiện. Do vậy, để khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, tránh tiêu cực và thất thoát cho ngân sách nhà nước, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần tập trung chỉ đạo thực hiện tốt việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất để đấu giá công khai lựa chọn chủ đầu tư, đặc biệt là đối với diện tích đất do Nhà nước giao đất để quản lý quy định tại Điều 8 của Luật đất đai, đất tại các vị trí có lợi thế, có khả năng sinh lời; trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất thì phải xác định giá đất cụ thể phù hợp với thị trường để tính thu nghĩa vụ tài chính theo quy định nhằm tránh thất thoát ngân sách nhà nước.
4. Xác định quỹ đất sạch.
Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay có các khu đất có nguồn gốc do nhà nước quản lý, gồm: Đất rừng Phòng hộ, do UBND cấp huyện quản lý hoặc do Ban Quản lý rừng phòng hộ quản lý (đã tách ra khỏi quy hoạch rừng), đất do UBND cấp xã quản lý, … Tuy nhiên, trên đất vẫn còn trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng rừng, làm nhà ở, trồng cây … (theo hợp đồng nhận khoán với Ban quản lý Rừng). Đối với phần tài sản trên đất, khi thu hồi đất phải bồi thường, hỗ trợ cho người có tài sản trên đất.
 a. Cách giải quyết của các tỉnh:
- Tỉnh Bình Thuận (quan điểm của Sở Tài nguyên và Môi trường): nếu đất chưa giải phóng mặt bằng thì xem chưa đủ điều kiện đấu giá quyền sử dụng đất. Do đó, các trường hợp nêu trên được xem là đất chưa được giải phóng mặt bằng.
- Tỉnh Đồng Nai: Nguồn gốc đất là do Nhà nước quản lý, vì vậy nên hỗ trợ, giải phóng mặt bằng để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất.
- Tỉnh Bình Dương: quan điểm giống như tỉnh Đồng Nai.
b. Ý kiến của Thanh tra Chính phủ (Đoàn thanh tra theo quyết định số 1408/QĐ-TTCP ngày 05/6/2017): Việc cho thuê đất đối với các trường hợp nêu trên mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất cần phải giải trình cụ thể lý do?.
c. Ý kiến đề xuất:
Quan điểm giải quyết của tỉnh bà Rịa-Vũng Tàu như tỉnh Bình Thuận, cụ thể: nếu đất chưa giải phóng mặt bằng (trên đất còn tài sản hoặc cây trồng, vật kiến trúc,..) thì xem chưa đủ điều kiện đấu giá quyền sử dụng đất.
Do đó, để thống nhất thực hiện, kính đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc xác định các khu đất nêu trên có được xem là “đất chưa bồi thường, giải phóng mặt bằng”? Và có thể cho nhà đầu tư thuê mà không đấu giá quyền sử dụng đất khi cho thuê hoặc giao đất được không.
* Hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Tại Điều 53 của Luật đất đai quy định: Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng. Theo nội dung tại Điểm 4 Mục I của Báo cáo số 235/BC-UBND của Quý Ủy ban thì các khu đất rừng phòng hộ do Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Ban Quản lý rừng phòng hộ quản lý và hiện vẫn còn các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng rừng đang sử dụng đất để làm nhà ở, trồng cây... (theo hợp đồng nhận khoán); chưa thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (chưa phải là đất đã giải phóng mặt bằng) nên căn cứ quy định của pháp luật nêu trên chưa thực hiện được việc giao đất, cho thuê đất.
Việc sử dụng đất rừng phòng hộ phải đúng theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2017 chủa Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Quyết định số 17/2015/QĐ-TTg ngày 09 tháng 6 năm 2015 của thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý rừng phfogn hộ và kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Trường hợp theo kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được phê duyệt mà quỹ đất nêu trên thuộc trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1 Điều 118 của Luật đất đai thì Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu căn cứ quy định tại Điều 62 của Luật đất đai để quyết định thu hồi đất và giao tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất.

Tác giả bài viết: Lê Tú

Nguồn tin: Văn phòng Sở

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Bản đồ hành chính

Bản đồ hành chính

Bản đồ quy hoạch

Ban do quy hoach
Bản tin tháng mười hai 2018
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
2017 << 12/2018 >> 2019

Thành viên đăng nhập

Thông tin tuyển dụng
ĐƯỜNG DÂY NÓNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP
Góp ý văn bản pháp luật
http://tnmtbariavungtau.gov.vn/index.php/vi/faq/
Báo điện tử bà rịa vũng tàu
Site uỷ ban nhân dân tỉnh ba rịa vũng tàu
Bộ tài nguyên và môi trường
Cục công nghệ thông tin
Khung giá đất

Bản đồ giá đất

Bản đồ giá đất

Dong phuc nhom bạt cuốn thông minh xử lý khí thải thiết bị xông hơi, massage Máy làm đá sạch may lam da